Thứ Năm, 23 tháng 11, 2017
Thứ Tư, 22 tháng 11, 2017
Kỹ thuật trồng chanh bốn mùa:
1. Thời vụ
trồng chanh bốn mùa :
Thời vụ trồng tốt nhất là vào mùa mưa để cây phát triển tốt và đỡ công tưới ban đầu
- Miền Bắc trồng vào 2 vụ chính vụ xuân và vụ thu.
- Miền Trung và miềnNam
có thể trồng vào mùa xuân, cuối mùa khô, đầu mùa mưa.
2. Loại đất canh tác : Chanh có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng tốt nhất là đất thịt tơi xốp và nhiều mùn. Độ pH thích hợp từ 5 – 8, chanh không chịu úng nước và mặn do đó cần đào kênh hoặc lên luống cao để thoát nước.
3. Chuẩn bị đất trồng chanh :
Hố được đào trước trồng 1-2 tháng, Kích thước hố trồng 0,6 x 0,6 x 0,6m với vùng đất thấp hố đào sâu 30-40cm, đất đồi đào sâu 60-80cm. Bón lót phân chuống vào hố trước : Phân chuồng hoai mục: 20-30 kg; phân lân 0,5 kg; kali 0,1kg; vôi bột 1 – 1,5 kg.Trộn đều lượng phân với đất, dùng cuốc phá thành hố sau đó rải vôi lên mặt hố và lấp đất mỏng. Tiếp đó bơm nước vào đầy hố, khoảng 10-15 ngày sau là trồng được.
4 Khoảng cách trồng chanh 4 mùa :
Khi trồng thuần chanh thì cây cách cây là 2,5 x2,5m, khi trồng xen canh với các cây rau màu thường là 3,5m x 3-4m. Như vậy khi trồng thuần thì mật độ là 1.600 cây/ha. Trồng xen mật độ là 900 cây/ha. Nếu vùng đất thấp phải có đê bao khép kín, có hệ thống thủy lợi tưới tiêu hoàn chỉnh, đắp mô cao 0,5-0,6m, rộng 0,8-1m. Nếu vùng đất cao mặt đất bằng phẳng đắp mô cao 0,3-0,8m, rộng 0,8-1m.
5 Cách trồng chanh 4 mùa:
Trồng bằng cây giống, đặt cây tùy số lượng nhánh nhiều cành bên hay ít mà đặt nhánh thẳng hay hơi nghiêng. Đặt nghiêng đối với cây chiết ít nhánh, giúp các đọt bên mọc lên để tạo tán. Sau khi trồng xong phải cắm cọc để buột thân cây cho gió khỏi lay làm đổ cây. Nếu là cây ghép xoay mắt ghép về hướng gió chính, lấp đất ngang cổ rễ hoặc cao hơn 1– 2 cm , tránh làm vỡ bầu hay lấp đất quá sâu. Năm đầu nên trồng xen đậu đỏ, lạc hay các loại rau khác.
6 Chăm sóc chanh 4 mùa :
- Hạn chế ánh sáng:
Trong thời gian đầu ta có thể trồng xen cây họ đậu vào trong vườn để hạn chế giông gió, đổ ngã và che bớt ánh sáng.
- Giữ ẩm: Đậy tủ gốc cho cây vào mùa khô, nhằm hạn chế chi phí tưới nước, trong vườn nên để cỏ cao 20-40cm để hạn chế nắng nóng vào mùa khô và chống xói mòn hay tăng cường thoát nước trong đất vào mùa mưa.
- Tưới nước: cung cấp nước cho cây điều độ, muốn cây ra hoa, ngưng tưới cho khô gốc 20-30 ngày, sau đó tưới lại cây sẽ ra hoa.
- Tỉa cành tạo tán: hạn chế cành vượt, loại bỏ những cành già cỗi sâu bệnh, giúp cây thông tháng, có dáng đẹp, tăng khả năng quang hợp và cây phát triển cân đối đủ sức mang trái.
- Bồi đất cho cây: vào thời kỳ bón thúc cho cây nên cho thêm đất mới vào tán cây dầy 2-3cm cùng kết hợp việc bán phân hữu cơ hoai hay phân hóa học.
Thời vụ trồng tốt nhất là vào mùa mưa để cây phát triển tốt và đỡ công tưới ban đầu
- Miền Bắc trồng vào 2 vụ chính vụ xuân và vụ thu.
- Miền Trung và miền
2. Loại đất canh tác : Chanh có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng tốt nhất là đất thịt tơi xốp và nhiều mùn. Độ pH thích hợp từ 5 – 8, chanh không chịu úng nước và mặn do đó cần đào kênh hoặc lên luống cao để thoát nước.
3. Chuẩn bị đất trồng chanh :
Hố được đào trước trồng 1-2 tháng, Kích thước hố trồng 0,6 x 0,6 x 0,6m với vùng đất thấp hố đào sâu 30-40cm, đất đồi đào sâu 60-80cm. Bón lót phân chuống vào hố trước : Phân chuồng hoai mục: 20-30 kg; phân lân 0,5 kg; kali 0,1kg; vôi bột 1 – 1,5 kg.Trộn đều lượng phân với đất, dùng cuốc phá thành hố sau đó rải vôi lên mặt hố và lấp đất mỏng. Tiếp đó bơm nước vào đầy hố, khoảng 10-15 ngày sau là trồng được.
4 Khoảng cách trồng chanh 4 mùa :
Khi trồng thuần chanh thì cây cách cây là 2,5 x2,5m, khi trồng xen canh với các cây rau màu thường là 3,5m x 3-4m. Như vậy khi trồng thuần thì mật độ là 1.600 cây/ha. Trồng xen mật độ là 900 cây/ha. Nếu vùng đất thấp phải có đê bao khép kín, có hệ thống thủy lợi tưới tiêu hoàn chỉnh, đắp mô cao 0,5-0,6m, rộng 0,8-1m. Nếu vùng đất cao mặt đất bằng phẳng đắp mô cao 0,3-0,8m, rộng 0,8-1m.
5 Cách trồng chanh 4 mùa:
Trồng bằng cây giống, đặt cây tùy số lượng nhánh nhiều cành bên hay ít mà đặt nhánh thẳng hay hơi nghiêng. Đặt nghiêng đối với cây chiết ít nhánh, giúp các đọt bên mọc lên để tạo tán. Sau khi trồng xong phải cắm cọc để buột thân cây cho gió khỏi lay làm đổ cây. Nếu là cây ghép xoay mắt ghép về hướng gió chính, lấp đất ngang cổ rễ hoặc cao hơn 1– 2 cm , tránh làm vỡ bầu hay lấp đất quá sâu. Năm đầu nên trồng xen đậu đỏ, lạc hay các loại rau khác.
6 Chăm sóc chanh 4 mùa :
- Hạn chế ánh sáng:
Trong thời gian đầu ta có thể trồng xen cây họ đậu vào trong vườn để hạn chế giông gió, đổ ngã và che bớt ánh sáng.
- Giữ ẩm: Đậy tủ gốc cho cây vào mùa khô, nhằm hạn chế chi phí tưới nước, trong vườn nên để cỏ cao 20-40cm để hạn chế nắng nóng vào mùa khô và chống xói mòn hay tăng cường thoát nước trong đất vào mùa mưa.
- Tưới nước: cung cấp nước cho cây điều độ, muốn cây ra hoa, ngưng tưới cho khô gốc 20-30 ngày, sau đó tưới lại cây sẽ ra hoa.
- Tỉa cành tạo tán: hạn chế cành vượt, loại bỏ những cành già cỗi sâu bệnh, giúp cây thông tháng, có dáng đẹp, tăng khả năng quang hợp và cây phát triển cân đối đủ sức mang trái.
- Bồi đất cho cây: vào thời kỳ bón thúc cho cây nên cho thêm đất mới vào tán cây dầy 2-3cm cùng kết hợp việc bán phân hữu cơ hoai hay phân hóa học.
7 Qui trình bón phân cho chanh 4 mùa
- Bón phân thúc: Thay đổi tùy theo tính chất đất, năng suất… * Bón 20-30 kg phân chuồng + 1- 2 kg tro/hốc/ năm (bón 1-2 lần/năm). Riêng phân hóa học được sử dụng bình quân như sau (cho mỗi cây): * Năm thứ nhất: 0,5-1,0kg sulfat đạm (nếu dùng urê bón 0,25-0,5kg) + 0,3-0,5kg NPK (16-16-8) . * Năm thứ hai: 1,0-2,0kg sulfat đạm (nếu dùng urê bón 0,5-1,0kg) + 0,3-0,5kg NPK (16-16-8). * Năm thứ ba trở đi: 2,0-2,4kg sulfat đạm (nếu dùng urê bón 1,0-1,2kg) + 0,5kg NPK (16-16-8) + 1 kg vôi. Do thu quả rải rác nên chia phân ra bón từ 4 – 5 lần/ năm.
8 Tạo quả chanh trái vụ:
Có thể cho ra quả trái vụ bằng cách xiết nước. Ngưng tưới nước, tưới phân, hạn chế nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây khoảng 3 - 4 tuần, sau đó bón phân và tưới nước trở lại, cây sẽ cảm ứng và cho hoa quả sớm hơn thường lệ.
9 Chống hiện tượng cách niên:
Cần bón phân đầy đủ để tránh cây bị kiệt sức, vào những năm được mùa cần tăng thêm phân. Cần chủ động tỉa bớt quả nhất là những cành phải nuôi nhiều quả; cắt bỏ những cành bên trong tán; tăng lượng phân ở thời kỳ sau thu hoạch.
10 Sâu bệnh hại và biện pháp phòng trừ:
Nhìn chung, các loại sâu bệnh trên cam, quýt, bưởi và chanh giống nhau. Riêng chanh cần chú ý hơn các đối tượng sau:
* Bệnh ghẻ: Do nấm Elsinoe fawcettii gây ra. Thường xuyên vệ sinh vườn cây, cắt tỉa và thu gom các bộ phận bị bệnh đem tiêu hủy. Phun ngừa khi cây ra đọt non hoặc khi hoa rụng cánh 2/3 bằng thuốc gốc đồng như Copper Zinc 85 WP, Coc 85 WP với liều lượng 20-30g/8 lít. Phun thuốc Benlate 50 WP, Derosal 60 WP, Polyram 80 DF, Kumulus 80 WP, Top plus 70 WP với nồng độ 0,2 - 0,5 %, phun 7-10 ngày/lần.
* Bệnh thán thư: Do nấm Colletotrichum gloeosporioides gây ra. Nấm làm hại lá, hoa và quả, làm rụng quả non. Cần cắt tỉa và tiêu hủy các lá, cành, trái bị bệnh, vệ sinh vườn, tỉa tán thoáng, tránh để vườn ẩm thấp. Không nên tưới nước lên tán cây khi cây bị bệnh. Phun thuốc khi thấy bệnh xuất hiện bằng các loại thuốc sau: Mancozeb 80 WP, Copper B 75 WP, Benomyl 50 WP, Antracol 70 WP, Bavistin 50 FL, Daconil 75 WP, Ridomil MZ 72 WP... liều lượng 15-30 g(cc)/8 lít, phun 7-10 ngày/lần, nên thay đổi thuốc sau vài lần phun để tránh sự quen thuốc của mầm bệnh.
* Bệnh thối gốc chảy nhựa: Do nấm Phytophthora spp. gây ra. Không nên tủ cỏ sát gốc vào mùa mưa. Dùng Copper Zinc 85 WP, Mancozeb 80 WP, Dithane M45 80 WP, Champion 77 WP pha đặc phết vào vết bệnh 7 ngày/lần. Hoặc để ngừa bệnh phết 2 lần/năm vào đầu và cuối mùa mưa. Phun thuốc khi bệnh gây hại cho cây Curzate M8 80 WP, Manzate 80 WP, Ridomil 72 WP, Metalaxyl 25 WP, Aliette 80 WP với liều lượng 20-30g/8 lít, phun 7-10 ngày/lần.
* Nhóm rệp sáp (rệp sáp, rệp bông, rệp dính): nên sử dụng phối hợp thuốc hóa học (loại thuốc hóa học gốc lân hữu cơ tỏ ra có hiệu quả đối với rệp sáp khi không sử dụng liên tục một loại nhất định) với dầu khoáng (dầu khoáng DC-Tronc Plus, SK 99- Enpray ; có thể sử dụng ở liều lượng 0,5%) kết hợp diệt trừ kiến lửa
III Thu hoạch và bảo quản chanh 4 mùa :- Bón phân thúc: Thay đổi tùy theo tính chất đất, năng suất… * Bón 20-30 kg phân chuồng + 1- 2 kg tro/hốc/ năm (bón 1-2 lần/năm). Riêng phân hóa học được sử dụng bình quân như sau (cho mỗi cây): * Năm thứ nhất: 0,5-1,0kg sulfat đạm (nếu dùng urê bón 0,25-0,5kg) + 0,3-0,5kg NPK (16-16-8) . * Năm thứ hai: 1,0-2,0kg sulfat đạm (nếu dùng urê bón 0,5-1,0kg) + 0,3-0,5kg NPK (16-16-8). * Năm thứ ba trở đi: 2,0-2,4kg sulfat đạm (nếu dùng urê bón 1,0-1,2kg) + 0,5kg NPK (16-16-8) + 1 kg vôi. Do thu quả rải rác nên chia phân ra bón từ 4 – 5 lần/ năm.
8 Tạo quả chanh trái vụ:
Có thể cho ra quả trái vụ bằng cách xiết nước. Ngưng tưới nước, tưới phân, hạn chế nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây khoảng 3 - 4 tuần, sau đó bón phân và tưới nước trở lại, cây sẽ cảm ứng và cho hoa quả sớm hơn thường lệ.
9 Chống hiện tượng cách niên:
Cần bón phân đầy đủ để tránh cây bị kiệt sức, vào những năm được mùa cần tăng thêm phân. Cần chủ động tỉa bớt quả nhất là những cành phải nuôi nhiều quả; cắt bỏ những cành bên trong tán; tăng lượng phân ở thời kỳ sau thu hoạch.
10 Sâu bệnh hại và biện pháp phòng trừ:
Nhìn chung, các loại sâu bệnh trên cam, quýt, bưởi và chanh giống nhau. Riêng chanh cần chú ý hơn các đối tượng sau:
* Bệnh ghẻ: Do nấm Elsinoe fawcettii gây ra. Thường xuyên vệ sinh vườn cây, cắt tỉa và thu gom các bộ phận bị bệnh đem tiêu hủy. Phun ngừa khi cây ra đọt non hoặc khi hoa rụng cánh 2/3 bằng thuốc gốc đồng như Copper Zinc 85 WP, Coc 85 WP với liều lượng 20-30g/8 lít. Phun thuốc Benlate 50 WP, Derosal 60 WP, Polyram 80 DF, Kumulus 80 WP, Top plus 70 WP với nồng độ 0,2 - 0,5 %, phun 7-10 ngày/lần.
* Bệnh thán thư: Do nấm Colletotrichum gloeosporioides gây ra. Nấm làm hại lá, hoa và quả, làm rụng quả non. Cần cắt tỉa và tiêu hủy các lá, cành, trái bị bệnh, vệ sinh vườn, tỉa tán thoáng, tránh để vườn ẩm thấp. Không nên tưới nước lên tán cây khi cây bị bệnh. Phun thuốc khi thấy bệnh xuất hiện bằng các loại thuốc sau: Mancozeb 80 WP, Copper B 75 WP, Benomyl 50 WP, Antracol 70 WP, Bavistin 50 FL, Daconil 75 WP, Ridomil MZ 72 WP... liều lượng 15-30 g(cc)/8 lít, phun 7-10 ngày/lần, nên thay đổi thuốc sau vài lần phun để tránh sự quen thuốc của mầm bệnh.
* Bệnh thối gốc chảy nhựa: Do nấm Phytophthora spp. gây ra. Không nên tủ cỏ sát gốc vào mùa mưa. Dùng Copper Zinc 85 WP, Mancozeb 80 WP, Dithane M45 80 WP, Champion 77 WP pha đặc phết vào vết bệnh 7 ngày/lần. Hoặc để ngừa bệnh phết 2 lần/năm vào đầu và cuối mùa mưa. Phun thuốc khi bệnh gây hại cho cây Curzate M8 80 WP, Manzate 80 WP, Ridomil 72 WP, Metalaxyl 25 WP, Aliette 80 WP với liều lượng 20-30g/8 lít, phun 7-10 ngày/lần.
* Nhóm rệp sáp (rệp sáp, rệp bông, rệp dính): nên sử dụng phối hợp thuốc hóa học (loại thuốc hóa học gốc lân hữu cơ tỏ ra có hiệu quả đối với rệp sáp khi không sử dụng liên tục một loại nhất định) với dầu khoáng (dầu khoáng DC-Tronc Plus, SK 99- Enpray ; có thể sử dụng ở liều lượng 0,5%) kết hợp diệt trừ kiến lửa
Khoảng 4 tháng sau khi hoa nở thì có thể thu hoạch được. Thu khi quả có vỏ căng, bóng. Thu hái nhẹ nhàng, tránh rụng lá gãy cành.
Sau khi thu hoạch để chanh ở khu vực thoáng mát, cách mặt sàn 10-15cm. có thể dùng các loại hóa chất bảo quản để chanh được tươi lâu
Thứ Ba, 21 tháng 11, 2017
Kỹ Thuật Nuôi Vịt Sinh Sản (Vịt Đẻ)
1. Chọn vịt sinh sản
Chọn vịt lên giai đoạn sinh sản lúc 21 – 22 tuần tuổi. Thời điểm này tỷ lệ loại thải thấp hơn thời điểm chọn lên hậu bị. Loại thải những con không đạt tiêu chuẩn giống như bị bệnh, ngoại hình có khuyết tật… Vịt trống được chọn khắt khe hơn và ghép trống mái theo tỷ lệ 1 : 5, 5 – 6. Khi sắp đẻ, vịt đã thay lông xong, bộ lông mượt trở lại. Nhìn bộ lông có thể đánh giá tương đối chính xác chất lượng nuôi dưỡng giai đoạn hậu bị
2. Chuồng trại, ao hồ:
chuồng nuôi vịt đẻ cũng có các kiểu chuồng như chuồng – sân – ao, chuồng sàn trên ao. Yêu cầu đối với chuồng nuôi là nền chuồng phải khô ráo, tránh chuột và các động vật khác phá ổ trứng. Tránh mưa nắng cho ổ đẻ.
Ổ đẻ được để sát vách chuồng. Ổ đẻ phải làm phía trong chuồng để khi vịt từ ao lên, đi qua sân chơi vào chuồng đến ổ đẻ thì chân đã khô, không làm dơ ướt ổ đẻ. Có thể ngăn riêng cho khu vực ổ đẻ, sau 8 giờ sáng ngăn khu vực này lại để tránh vịt vào nằm trong ổ đẻ làm dơ ổ đẻ.
Mật độ nuôi: 2 – 3 con/m2 nền chuồng.
Lót nền chuồng và ổ đẻ bằng rơm khô, cỏ khô, trấu. Đặc biệt chú ý lót ổ đẻ, phải thay thường xuyên để tránh ẩm ướt và mốc. Trong điều kiện ẩm ướt, nấm và vi khuẩn rất dễ phát triển. Ổ đẻ được làm bằng gỗ, tre, tấm cót,… thành từng ô có kích thước 40 x 60 x 40 cm (Xem hình 1). Tính trung bình, mỗi ô cho 4 – 6 con mái đẻ.
Thí dụ: Một đàn vịt đẻ có 100 con mái thì làm 4 cái ổ đẻ, mỗi cái 5 ô đẻ. Đàn vịt có 500 mái thì làm 15 cái, để dọc theo vách chuồng (chiều dài 30 m).
Nếu làm chuồng sàn trên ao cá, trước hết chúng ta lót sàn ở chỗ đặt ổ đẻ bằng tấm cát-tăng, cót… rồi mới đặt ổ đẻ lên, nhằm tránh cho rơm, trấu rơi xuống ao.
Ao nuôi vịt đẻ có độ sâu 1,2 mét trở lên. Nước phải được thay sạch sẽ để đảm bảo tỷ lệ đẻ và tỷ lệ phôi. Cần chú ý cầu ao, với độ nghiêng không quá 25o và mặt cầu không trơn trượt, không gồ ghề để tránh dập vỡ buồng trứng.
3. Thức ăn, nước uống:
Thức ăn cho vịt đẻ nuôi nhốt có hai dạng phổ biến sau, tùy điều kiện kinh tế và tính toán hiệu quả theo giá cả thị trường mà chọn loại hình đầu tư thức ăn cho phù hợp.
Nuôi vịt đẻ hoàn toàn bằng thức ăn hỗn hợp (thức ăn viên). Dùng thức ăn viên có chi phí thức ăn tương đối cao, nhưng bù lại là sự thuận tiện, dễ sử dụng, chủ động về số lượng, theo dõi mức ăn hằng ngày dễ dàng,… Trên thị trường hiện nay có nhiều loại thức ăn cho vịt đẻ.
Không được nhầm lẫn thức ăn vịt đẻ hướng trứng (thường có tỷ lệ protein thấp hơn) với thức ăn cho vịt đẻ hướng thịt cao sản này. Tránh thay đổi liên tục loại thức ăn, như vậy sẽ ảnh hưởng đến năng suất vịt đẻ. Điều quan trọng là nguồn thức ăn phải ổn định về chất lượng, nguyên liệu đầu vào sản xuất thức ăn phải đảm bảo chất lượng và vệ sinh.
Một phương thức khác hiện nay nhiều hộ nuôi vịt đẻ CV Super-M2 cải tiến áp dụng khá hiệu quả là kết hợp thức ăn viên hỗn hợp và nguồn thức ăn tự nhiên như ốc tươi, còng tươi và lúa. Chúng tôi khuyến cáo không nên thay toàn bộ thức ănhỗn hợp bằng thức ăn tự nhiên, vì nguồn thức ăn tự nhiên thay đổi theo mùa vụ, con nước nên không thể chủ động về số lượng, chất lượng.
Chỉ nên dùng theo công thức 70 – 80% thức ăn viên + 20-30% được thay bằng hỗn hợp lúa + ốc tươi, còng tươi. Cứ 1 kg thức ăn viên vịt đẻ được thay bằng 1,1-1,2 kg lúa + 0,8-0,9 kg ốc tươi. Nếu dùng còng tươi, do giá còng đắt (3500 – 4000 đồng/kg so với ốc bươu vàng chỉ 700-1200 đồng/kg), nên lượng còng tươi dùng ít hơn, khoảng 20 – 30 gam/con/ngày.
Chọn vịt lên giai đoạn sinh sản lúc 21 – 22 tuần tuổi. Thời điểm này tỷ lệ loại thải thấp hơn thời điểm chọn lên hậu bị. Loại thải những con không đạt tiêu chuẩn giống như bị bệnh, ngoại hình có khuyết tật… Vịt trống được chọn khắt khe hơn và ghép trống mái theo tỷ lệ 1 : 5, 5 – 6. Khi sắp đẻ, vịt đã thay lông xong, bộ lông mượt trở lại. Nhìn bộ lông có thể đánh giá tương đối chính xác chất lượng nuôi dưỡng giai đoạn hậu bị
2. Chuồng trại, ao hồ:
chuồng nuôi vịt đẻ cũng có các kiểu chuồng như chuồng – sân – ao, chuồng sàn trên ao. Yêu cầu đối với chuồng nuôi là nền chuồng phải khô ráo, tránh chuột và các động vật khác phá ổ trứng. Tránh mưa nắng cho ổ đẻ.
Ổ đẻ được để sát vách chuồng. Ổ đẻ phải làm phía trong chuồng để khi vịt từ ao lên, đi qua sân chơi vào chuồng đến ổ đẻ thì chân đã khô, không làm dơ ướt ổ đẻ. Có thể ngăn riêng cho khu vực ổ đẻ, sau 8 giờ sáng ngăn khu vực này lại để tránh vịt vào nằm trong ổ đẻ làm dơ ổ đẻ.
Mật độ nuôi: 2 – 3 con/m2 nền chuồng.
Lót nền chuồng và ổ đẻ bằng rơm khô, cỏ khô, trấu. Đặc biệt chú ý lót ổ đẻ, phải thay thường xuyên để tránh ẩm ướt và mốc. Trong điều kiện ẩm ướt, nấm và vi khuẩn rất dễ phát triển. Ổ đẻ được làm bằng gỗ, tre, tấm cót,… thành từng ô có kích thước 40 x 60 x 40 cm (Xem hình 1). Tính trung bình, mỗi ô cho 4 – 6 con mái đẻ.
Thí dụ: Một đàn vịt đẻ có 100 con mái thì làm 4 cái ổ đẻ, mỗi cái 5 ô đẻ. Đàn vịt có 500 mái thì làm 15 cái, để dọc theo vách chuồng (chiều dài 30 m).
Nếu làm chuồng sàn trên ao cá, trước hết chúng ta lót sàn ở chỗ đặt ổ đẻ bằng tấm cát-tăng, cót… rồi mới đặt ổ đẻ lên, nhằm tránh cho rơm, trấu rơi xuống ao.
Ao nuôi vịt đẻ có độ sâu 1,2 mét trở lên. Nước phải được thay sạch sẽ để đảm bảo tỷ lệ đẻ và tỷ lệ phôi. Cần chú ý cầu ao, với độ nghiêng không quá 25o và mặt cầu không trơn trượt, không gồ ghề để tránh dập vỡ buồng trứng.
3. Thức ăn, nước uống:
Thức ăn cho vịt đẻ nuôi nhốt có hai dạng phổ biến sau, tùy điều kiện kinh tế và tính toán hiệu quả theo giá cả thị trường mà chọn loại hình đầu tư thức ăn cho phù hợp.
Nuôi vịt đẻ hoàn toàn bằng thức ăn hỗn hợp (thức ăn viên). Dùng thức ăn viên có chi phí thức ăn tương đối cao, nhưng bù lại là sự thuận tiện, dễ sử dụng, chủ động về số lượng, theo dõi mức ăn hằng ngày dễ dàng,… Trên thị trường hiện nay có nhiều loại thức ăn cho vịt đẻ.
Không được nhầm lẫn thức ăn vịt đẻ hướng trứng (thường có tỷ lệ protein thấp hơn) với thức ăn cho vịt đẻ hướng thịt cao sản này. Tránh thay đổi liên tục loại thức ăn, như vậy sẽ ảnh hưởng đến năng suất vịt đẻ. Điều quan trọng là nguồn thức ăn phải ổn định về chất lượng, nguyên liệu đầu vào sản xuất thức ăn phải đảm bảo chất lượng và vệ sinh.
Một phương thức khác hiện nay nhiều hộ nuôi vịt đẻ CV Super-M2 cải tiến áp dụng khá hiệu quả là kết hợp thức ăn viên hỗn hợp và nguồn thức ăn tự nhiên như ốc tươi, còng tươi và lúa. Chúng tôi khuyến cáo không nên thay toàn bộ thức ănhỗn hợp bằng thức ăn tự nhiên, vì nguồn thức ăn tự nhiên thay đổi theo mùa vụ, con nước nên không thể chủ động về số lượng, chất lượng.
Chỉ nên dùng theo công thức 70 – 80% thức ăn viên + 20-30% được thay bằng hỗn hợp lúa + ốc tươi, còng tươi. Cứ 1 kg thức ăn viên vịt đẻ được thay bằng 1,1-1,2 kg lúa + 0,8-0,9 kg ốc tươi. Nếu dùng còng tươi, do giá còng đắt (3500 – 4000 đồng/kg so với ốc bươu vàng chỉ 700-1200 đồng/kg), nên lượng còng tươi dùng ít hơn, khoảng 20 – 30 gam/con/ngày.
Thí dụ:
Đàn vịt đẻ gồm 200 con mái và 35 con trống, tổng cộng 235 con. Mỗi ngày ăn 54 kg thức ăn, gồm:
Thức ăn viên vịt đẻ: 54 kg x 70% (38 kg).
16 kg thức ăn còn lại được thay bằng 13 – 14 kg lúa + 17 – 18 kg ốc tươi. Nếu là ốc bươu vàng thì phải đập dập vỏ trước khi cho ăn.
Rau xanh: 20 – 30 kg, tùy loại rau.
Chuyển đổi từ loại thức ăn hậu bị sang thức ăn vịt đẻ từ tuần tuổi 22, nhưng vẫn phải khống chế mức ăn hàng ngày cho đến khi vịt đẻ 30 – 50% mới cho ăn tự do để tránh vịt bị mập. Nếu vịt bị quá mập, tích mỡ nhiều ở khoang bụng, xung quanh buồng trứng, hạn chế sự phát triển của buồng trứng, vịt đẻ muộn, tỷ lệ đẻ thấp và tỷ lệ trứng nhỏ, trứng dị hình cao.
Vịt đẻ cho ăn 2 bữa/ngày. Cho vịt ăn vào lúc trời mát.
Sử dụng máng ăn bằng gỗ, tôn hay nia mẹt, chậu. Một máng ăn bằng gỗ hay tôn có chiều dài 2 mét (Hình 2) đủ cho 70 – 100 con. Tránh để thức ăn ngoài mưa, nắng để bảo vệ chất lượng thức ăn. Những ngày nắng nóng, lượng thức ăn tiêu thụ giảm nhiều thì cần phải bổ sung thêm các chế phẩm bổ sung axít-amin và chất điện giải.
Cần có đủ nước uống cho vịt đẻ. Nhu cầu lượng nước uống hằng ngày bằng 3 – 4 lần lượng thức ăn tinh. Trước khi thả vịt xuống ao phải cho vịt uống no nước ngọt. Có thể dùng máng uống tự chế bằng tôn, chậu sành hay máng uống tự động
4. Chiếu sáng :
Thời gian chiếu sáng quy định là 17 giờ/ngày. Ngoài chiếu sáng tự nhiên khoảng 12 – 14 giờ, phải chiếu sáng nhân tạo bổ sung 3 – 5 giờ/ngày. Công suất chiếu sáng là 3 – 5 W/m2 nền chuồng (treo bóng đèn tròn 75W cách mặt nền chuồng 2 – 2,5 mét). Chiếu sáng hợp lý sẽ kích thích đẻ trứng và đảm bảo chất lượng trứng giống cao.
5. Nhặt và bảo quản trứng:
Vịt đẻ tập trung vào 2 – 4 giờ sáng, nhưng có thể đẻ muộn đến 8 – 9 giờ sáng. Nên nhặt trứng làm 2 – 3 lần để trứng được sạch sẽ và tránh dập vỡ. Trứng sau khi nhặt xong cần chọn ngay những quả đủ tiêu chuẩn giống để bảo quản. Trứng dơ bẩn có thể rửa bằng dung dịch có chứa chlorin theo nồng độ 1250 ppm. Cứ 10 lít nước ấm pha 50 gam chất có chứa 25% chlorin. Hãng Cherry Valley đưa ra quy định nhiệt độ nước trong quá trình rửa trứng là 37oC. Tuyệt đối không được rửa trứng bằng nước lã, nước dơ, vì như vậy vi trùng dễ xâm nhập làm thối trứng.
Trứng đựng vào khay, cần xé và bảo quản nơi khô mát. Nếu có phòng lạnh bảo quản ở nhiệt độ 18 – 20oC thì càng tốt. Trứng giống bảo quản 3 – 5 ngày, tối đa 7 ngày phải đưa ấp. Nếu để lâu hơn thì tỷ lệ chết phôi trong quá trình ấp sẽ tăng.
6. Chích ngừa bệnh dịch tả vịt:
Đối với vịt, dịch tả vịt là bệnh bắt buộc phải chích ngừa. Hiện nay, trên thị trường có một số loại vắc xin được sản xuất trong và ngoài nước. Trại vịt giống VIGOVA nhiều năm qua sử dụng vắc xin của công ty thuốc thú y TW2, TP. Hồ Chí Minh. Loại vắc xin này dễ sử dụng, hiệu quả cao và giá rẻ. Pha vắc-xin với nước sinh lý và chích dưới da cổ hay bắp đùi.
7. Lịch chích ngừa cho vịt bố mẹ như sau:
18 ngày tuổi: 0,5 cc/con.
8 – 9 tuần tuổi (sau khi chọn vịt hậu bị): 1 cc/con.
21 tuần tuổi: 1 cc/con.
Những nơi có nguy cơ bệnh cao, có thể chích nhắc lại vào giữa chu kỳ đẻ trứng (sau 6 – 7 tháng đẻ), nhưng phải thận trọng vì có thể làm giảm tỷ lệ đẻ.
Nguồn: http://traigiongthuha.com/Ky-Thuat-Nuoi-Vit-Sinh-San-Vit-De-muc433-tin-tuc.html
Đàn vịt đẻ gồm 200 con mái và 35 con trống, tổng cộng 235 con. Mỗi ngày ăn 54 kg thức ăn, gồm:
Thức ăn viên vịt đẻ: 54 kg x 70% (38 kg).
16 kg thức ăn còn lại được thay bằng 13 – 14 kg lúa + 17 – 18 kg ốc tươi. Nếu là ốc bươu vàng thì phải đập dập vỏ trước khi cho ăn.
Rau xanh: 20 – 30 kg, tùy loại rau.
Chuyển đổi từ loại thức ăn hậu bị sang thức ăn vịt đẻ từ tuần tuổi 22, nhưng vẫn phải khống chế mức ăn hàng ngày cho đến khi vịt đẻ 30 – 50% mới cho ăn tự do để tránh vịt bị mập. Nếu vịt bị quá mập, tích mỡ nhiều ở khoang bụng, xung quanh buồng trứng, hạn chế sự phát triển của buồng trứng, vịt đẻ muộn, tỷ lệ đẻ thấp và tỷ lệ trứng nhỏ, trứng dị hình cao.
Vịt đẻ cho ăn 2 bữa/ngày. Cho vịt ăn vào lúc trời mát.
Sử dụng máng ăn bằng gỗ, tôn hay nia mẹt, chậu. Một máng ăn bằng gỗ hay tôn có chiều dài 2 mét (Hình 2) đủ cho 70 – 100 con. Tránh để thức ăn ngoài mưa, nắng để bảo vệ chất lượng thức ăn. Những ngày nắng nóng, lượng thức ăn tiêu thụ giảm nhiều thì cần phải bổ sung thêm các chế phẩm bổ sung axít-amin và chất điện giải.
Cần có đủ nước uống cho vịt đẻ. Nhu cầu lượng nước uống hằng ngày bằng 3 – 4 lần lượng thức ăn tinh. Trước khi thả vịt xuống ao phải cho vịt uống no nước ngọt. Có thể dùng máng uống tự chế bằng tôn, chậu sành hay máng uống tự động
4. Chiếu sáng :
Thời gian chiếu sáng quy định là 17 giờ/ngày. Ngoài chiếu sáng tự nhiên khoảng 12 – 14 giờ, phải chiếu sáng nhân tạo bổ sung 3 – 5 giờ/ngày. Công suất chiếu sáng là 3 – 5 W/m2 nền chuồng (treo bóng đèn tròn 75W cách mặt nền chuồng 2 – 2,5 mét). Chiếu sáng hợp lý sẽ kích thích đẻ trứng và đảm bảo chất lượng trứng giống cao.
5. Nhặt và bảo quản trứng:
Vịt đẻ tập trung vào 2 – 4 giờ sáng, nhưng có thể đẻ muộn đến 8 – 9 giờ sáng. Nên nhặt trứng làm 2 – 3 lần để trứng được sạch sẽ và tránh dập vỡ. Trứng sau khi nhặt xong cần chọn ngay những quả đủ tiêu chuẩn giống để bảo quản. Trứng dơ bẩn có thể rửa bằng dung dịch có chứa chlorin theo nồng độ 1250 ppm. Cứ 10 lít nước ấm pha 50 gam chất có chứa 25% chlorin. Hãng Cherry Valley đưa ra quy định nhiệt độ nước trong quá trình rửa trứng là 37oC. Tuyệt đối không được rửa trứng bằng nước lã, nước dơ, vì như vậy vi trùng dễ xâm nhập làm thối trứng.
Trứng đựng vào khay, cần xé và bảo quản nơi khô mát. Nếu có phòng lạnh bảo quản ở nhiệt độ 18 – 20oC thì càng tốt. Trứng giống bảo quản 3 – 5 ngày, tối đa 7 ngày phải đưa ấp. Nếu để lâu hơn thì tỷ lệ chết phôi trong quá trình ấp sẽ tăng.
6. Chích ngừa bệnh dịch tả vịt:
Đối với vịt, dịch tả vịt là bệnh bắt buộc phải chích ngừa. Hiện nay, trên thị trường có một số loại vắc xin được sản xuất trong và ngoài nước. Trại vịt giống VIGOVA nhiều năm qua sử dụng vắc xin của công ty thuốc thú y TW2, TP. Hồ Chí Minh. Loại vắc xin này dễ sử dụng, hiệu quả cao và giá rẻ. Pha vắc-xin với nước sinh lý và chích dưới da cổ hay bắp đùi.
7. Lịch chích ngừa cho vịt bố mẹ như sau:
18 ngày tuổi: 0,5 cc/con.
8 – 9 tuần tuổi (sau khi chọn vịt hậu bị): 1 cc/con.
21 tuần tuổi: 1 cc/con.
Những nơi có nguy cơ bệnh cao, có thể chích nhắc lại vào giữa chu kỳ đẻ trứng (sau 6 – 7 tháng đẻ), nhưng phải thận trọng vì có thể làm giảm tỷ lệ đẻ.
Nguồn: http://traigiongthuha.com/Ky-Thuat-Nuoi-Vit-Sinh-San-Vit-De-muc433-tin-tuc.html
Thứ Hai, 20 tháng 11, 2017
Kỹ thuật nuôi và chăm sóc ong lấy mật

1. Sinh học ong mật :
mật: sống thành đàn, trong đàn gồm có Ong chúa, Ong đực và Ong thợ.
Ong chúa: Bình thường mỗi đàn ong chỉ có một con ong chúa. Ong chúa của giống ong nội đẻ trung bình 400 - 600 trứng/ngày đêm.Ong chúa có hình dạng lớn nhất trong đàn: dáng cân đối, bụng thon dài, chúa mới đẻ có lớp lông tơ nhiều, mịn, bò nhanh nhẹn.Ong chúa có khả năng sinh sản để duy trì bầy đàn và điều tiết của hoạt động của đàn ong.
Ong đực: Có màu đen, nhiệm vụ duy nhất là giao phối với ong chúa. Ong đực có thể sống trong 50 - 60 ngày. Sau khi giao phối, ong đực bị chết. Khi thiếu ăn chúng sẽ bị ong thợ đuổi ra ngoài và bị chết đói.
Ong thợ: Có số lượng đông nhất trong đàn,có bộ phận sinh sản phát triển không đầy đủ. Ong thợ có cấu tạo cơ thể thích hợp với việc nuôi ấu trùng, thu mật và phấn hoa...Tuổi thọ của ong thợ chỉ kéo dài từ 5 - 8 tuần. Khi phải nuôi nhiều ấu trùng, lấy mật nhiều thì tuổi thọ giảm và ngược lại. Một số ong thợ làm nhiệm vụ trinh sát, bay đi tìm nguồn mật, phấn hoa và thông báo cho các ong thu hoạch biết đến hút mật chuyển cho ong tiếp nhận. Ong tiếp nhận tiết thêm men vào mật, quạt gió và chuyển dần mật từ các lỗ tổ ở phía dưới lên trên của bánh tổ.
2. Chọn điểm đặt ong
a. Chọn điểm nuôi ong:
Gần nguồn mật phấn hoa
Nơi không phun thuốc sâu hóa chất.
Không có dịch Bệnh, ít hoặc không có ong rừng, chim thú hại.
Địa hình thoáng mát, yên tĩnh, không gần đường giao thông, nhà máy đường, nhà máy hóa chất, nhà máy chế biến hoa qủa và không có hồ lớn bao quanh...
b. Cách đặt thùng đàn ong:
Thùng ong nên kê cao 25 - 30cm so với mặt đất, thùng nọ cách thùng kia ít nhất là 1m, cửa ra vào đặt các hướng khác nhau, chọn nơi khô ráo, thoáng mát như dưới hiên nhà, cạnh gốc cây... Không nên đặt trên sân gạch, nền xi măng, nơi qúa ẩm ướt hoặc gần chuồng gia súc.
3. Chia đàn tự nhiên
Một bộ phận ong thợ cùng với ong chúa tách ra, bay đi để thành lập một tổ ong mới. Chia đàn ong tự nhiên thường làm giảm năng suất mật.
a. Khi nào đàn ong chia đàn tự nhiên:
Điều kiện bên ngoài:
Nguồn thức ăn (mật, phấn) nhiều.
Khí hậu thời tiết tốt (không nắng, nóng, lạnh qúa)
Điều kiện bên trong :Mật độ ong đông, ong chúa đẻ mạnh, cầu con nhiều, thức ăn dự trữ thừa và ong sống trong thùng qúa chật trội.
b. Hiện tượng của đàn ong trước khi chia đàn tự nhiên:
Trước khi chia đàn vài tuần, ong xây nhiều lỗ tổ ong đực và xây từ 3 - 10 mũ chúa ở hai góc và phía dưới bánh tổ.
Bình thường khi mũ chúa già thì ong chia đàn nhưng có khi mới có nền chúa hoặc ong chúa mới đẻ vào đã chia đàn.
Ong chia đàn từ 8 - 11 giờ sáng và 14 - 16 giờ chiều vào những ngày đẹp trời. Khi chia đàn, ong chúa cũ cùng với qúa nửa số ong thợ và một số ong đực ăn no mật rồi bay ra khỏi tổ, sau đó tụ lại ở hiên nhà, cành cây gần đó và quên tổ cũ, khi bắt đàn ong trở lại, nên cho ong vào thùng khác và đặt bất cứ nơi nào.
Khi chia đàn tự nhiên, ong không ồn ào và náo động như khi bốc bay.
. Thời gian chia đàn tự nhiên:
Ở miền Bắc: ong thường chia đàn vào tháng 3 - 4, một số ít chia vào tháng 10 - 11.
Ở miền Nam: ong thường chia đàn vào tháng 10 - 11 và tháng 2 - 4(đầu và giữa vụ mật).
d. Xử lý ong chia đàn tự nhiên:
Trong trường hợp đàn ong ít quân : khắc phục việc chia đàn bằng cách thay ong chúa cũ bằng ong chúa mới vào lúc nguồn hoa phong phú, cho thêm tầng chân, quay mật hoặc chuyển cầu mật cho đàn khác, nới rộng khoảng cách cầu và bỏ vật chống rét ra ngoài, vặt các mũ chúa và cắt bỏ lỗ tổ ong đực.
Trong trường hợp đàn ong mạnh thì chủ động chia đàn : cần cho ăn đủ, chọn những mũ chúa thẳng dài ở vị trí trống như ở 2 góc và dưới bánh tổ để sử dụng sau khi ong chia đàn mới.
Đàn ong chia đàn tự nhiên thường ăn no mật và phần, đông ong thợ trẻ đang độ tuổi tiết sáp, xây tầng nhanh, nên ngay sau khi ổn định có thể cho đàn ong đó xây tầng chân. Đàn ong gốc chỉ giữ lại 1 mũ ong chúa tốt nhất để thay chúa còn lại cắt bỏ tất cả các mũ chúa đi.
Ong bốc bay
a. Nguyên nhân và biểu hiện ong bốc bay:
Nguyên nhân bên ngoài: ong rừng, kiến hoặc dịch hại khác quấy phá, trời nắng, nóng, khô hanh; thùng ong bị đổ, bị chấn động mạnh sau khi di chuyền,...
Nguyên nhân bên trong: do đàn ong thiếu thức ăn, ong chúa ngừng đẻ không có cầu con. Đặc biệt khi đàn ong bị bệnh và bị sâu phá bánh tổ.
Hoặc do chuyển nơi ở theo mùa vì ong còn mang tính dã sinh.
Trước khi bốc bay, ong chúa giảm đẻ sau đó ngừng hẳn, đàn ong đi làm uể oải. Khi sắp bốc bay cả đàn đàn ong ồn ào, náo động, chúng ăn no mật và ùn ùn kéo ra khỏi tổ.
b. Thời vụ và thời gian ong bốc bay:
Ở miền Bắc, ong thường bốc bay vào tháng 7 - 9 do thiếu ăn và nắng nóng, ong di chuyển chỗ ở từ vùng thấp lên vùng cao mát mẻ hơn. Tháng 10 - 11 ong lại bốc bay di cư về vùng thấp và tháng 1 - 2 bốc bay do đói rét.
Ở miền Nam, ong bốc bay sau vụ mật vào tháng 7 - 9.
c. Biện pháp hạn chế ong bốc bay:
Tạo đàn ong có chúa trẻ dưới 8 tháng tuổi, đẻ tốt.
Thức ăn đủ (cả mật vít nắp và 1 - 2 cầu phấn).
Duy trì đàn ong lúc nào cũng có cầu con, nhất là cầu ấu trùng.
Phòng bệnh tốt, trị bệnh kịp thời và triệt để.
Chống nóng, nắng, hanh khô.
4. Phương pháp nhập đàn ong, cầu ong:Nhập ong thợ từ đàn này sang đàn khác nhằm :
Điều chỉnh thế ong cho đồng đều.
Xử lý các trường hợp: bốc bay, mất chúa, tăng lực lượng xây bánh tổ.
Thao tác cần nhẹ nhàng để tránh ong đánh nhau gây tình trạng mất ổn định trong đàn ong và những đàn xung quanh.
a. Các nguyên tắc nhập đàn ong, cầu ong:
Nhập vào buổi tối.
Nhập đàn ong không có chúa vào đàn ong có chúa.
Nhập đàn ong yếu vào đàn ong mạnh.
b. Các cách nhập ong:
Nhập gián tiếp (ngoài ván ngăn)
Khử hoặc tách chúa ở đàn bị nhập trước 6 giờ.
Đến tối nhấc các cầu định nhập đặt ngoài ván ngăn của đàn ong được nhập.
Sáng hôm sau nhấc ván ngăn ra ngoài và ổn định cầu mới nhập vào.
Nhập trực tiếp (trong ván ngăn):Buổi chiều, tách ván ngăn ra xa, đến tối đặt nhẹ cầu nhập vào hoặc thổi nhẹ cho ong già bay khỏi tổ, còn lại toàn ong non.
5. Phương pháp chia đàn ong: Chia đàn nhân tạo nhằm giảm sự chia đàn tự nhiên và tăng số đàn. Có mấy phương pháp chia như sau:
a. Chia đàn song song:
Sau khi chuẩn bị được ong chúa, mũ chúa, dùng một thùng mới có mầu sơn giống với mầu thùng cũ của đàn ong định chia.
Chia đều số cầu, quân nhộng, ấu trùng và thức ăn ra làm đôi, đặt 2 đàn liền nhau.
Để 2 đàn cách đều vị trí đàn cũ 20 - 30cm. Nếu đàn ong vào nhiều hơn thì nhích xa vị trí cũ, đàn nào vào ít thì nhích gần lại. Dần dần tách 2 đàn ra xa nhau, quay cửa tổ ra 2 hướng.
Cách chia này có ưu điểm là 2 đàn được chia đều, phát triển nhanh, không phải mang ong đi, tiện kiểm tra, chăm sóc.
b. Chia dời chỗ:
Mang thùng mới đến gần đàn cơ bản, tách ra 2 - 3 cầu, chèn lại, rồi chuyển đi cách đó 1km, thường mang ong chúa đã đẻ đi. Nên tiến hành trước vụ mật 40 ngày.
c. Tách cầu ghép thành đàn mới :
Khi sắp tới vụ mật, có một số đàn ong mạnh muốn chia đàn tự nhiên, nếu không chia ong sẽ tự chia đàn hoặc đi làm kém. Cần lấy từ các đàn mạnh, mỗi đàn một cầu nhộng và quân để tách ra hình thành đàn mới. Vừa chống chia đàn, vừa tăng sản lượng mật, tăng được số lượng đàn. Ngày đầu chỉ nên lấy 1 cầu, ngày sau lấy 1 cầu của đàn khác và hôm sau lấy thêm 1 cầu của đàn thứ 3. Nếu ong chúa đẻ, đàn ghép sẽ phát triển nhanh.
6. Phương pháp chống nóng, chống rét cho ong: Yêu cầu nhiệt độ trong đàn ong từ 33 - 35OC, độ ẩm từ 60 - 80%. Cao hơn hoặc thấp hơn ong thợ sẽ làm những công việc sau :
Quạt gió cho mát (nếu nóng qúa)
Tụ lại rung cánh tạo nhiệt (rét qúa)
Đi lấy nước về tổ (hanh, thiếu ẩm độ)
Chống nóng cho ong:
Không để đàn ong ở ngoài nắng, không đặt cửa về hướng tây, không để đàn ong chật chội.
Để máng có nước trong thùng ong vào những ngày nóng bức.
Chống rét, khô hanh cho ong:
Điều chỉnh đàn ong trước mùa rét để có thế đàn đông đều, nên kết thúc nhân giống trước 30/11 để có thời gian nâng thế đàn tốt qua mùa đông.
Cho ăn đầy đủ đến khi có mật vít nắp, nếu thiếu phấn kéo dài phải cho ăn bổ sung.
Dùng rơm, lá chuối khô... làm vật chống rét để ở ngoài ván ngăn hoặc bên trên xà cầu.
Bịt kín các khe hở của thùng ong, không để cửa tổ quay về hướng bắc.
Nếu khô hanh qúa cho uống nước pha ít muối với tỷ lệ 9/1000.
Nguồn: https://kythuatnuoitrong.edu.vn/tin-nong-nghiep/ky-thuat-nuoi-va-cham-soc-ong-lay-mat.html
Kỹ thuật nuôi vịt trời sinh sản

Chọn vịt trời sinh sản: Chọn vịt lên giai đoạn sinh sản lúc 21 – 22 tuần tuổi. Thời điểm này tỷ lệ loại thải thấp hơn thời điểm chọn lên hậu bị. Loại thải những con không đạt tiêu chuẩn giống như bị bệnh, ngoại hình có khuyết tật… Vịt trống được chọn khắt khe hơn và ghép trống mái theo tỷ lệ 1 : 5, 5 – 6. Khi sắp đẻ, vịt đã thay lông xong, bộ lông mượt trở lại. Nhìn bộ lông có thể đánh giá tương đối chính xác chất lượng nuôi dưỡng giai đoạn hậu bị.
– Chuồng trại, ao hồ:
Chuồng nuôi vịt đẻ cũng có các kiểu chuồng như chuồng – sân – ao, chuồng sàn trên ao. Yêu cầu đối với chuồng nuôi là nền chuồng phải khô ráo, tránh chuột và các động vật khác phá ổ trứng. Tránh mưa nắng cho ổ đẻ.
Ổ đẻ được để sát vách chuồng. Ổ đẻ phải làm phía trong chuồng để khi vịt từ ao lên, đi qua sân chơi vào chuồng đến ổ đẻ thì chân đã khô, không làm dơ ướt ổ đẻ. Có thể ngăn riêng cho khu vực ổ đẻ, sau 8 giờ sáng ngăn khu vực này lại để tránh vịt vào nằm trong ổ đẻ làm dơ ổ đẻ.
Mật độ nuôi: 2 – 3 con/m2 nền chuồng.

Lót nền chuồng và ổ đẻ bằng rơm khô, cỏ khô, trấu. Đặc biệt chú ý lót ổ đẻ, phải thay thường xuyên để tránh ẩm ướt và mốc. Trong điều kiện ẩm ướt, nấm và vi khuẩn rất dễ phát triển. Ổ đẻ được làm bằng gỗ, tre, tấm cót,… thành từng ô có kích thước 40 x 60 x 40 cm (Xem hình 1). Tính trung bình, mỗi ô cho 4 – 6 con mái đẻ.
Thí dụ: Một đàn vịt đẻ có 100 con mái thì làm 4 cái ổ đẻ, mỗi cái 5 ô đẻ. Đàn vịt có 500 mái thì làm 15 cái, để dọc theo vách chuồng (chiều dài 30 m).
Nếu làm chuồng sàn trên ao cá, trước hết chúng ta lót sàn ở chỗ đặt ổ đẻ bằng tấm cát-tăng, cót… rồi mới đặt ổ đẻ lên, nhằm tránh cho rơm, trấu rơi xuống ao.
Ao nuôi vịt đẻ có độ sâu 1,2 mét trở lên. Nước phải được thay sạch sẽ để đảm bảo tỷ lệ đẻ và tỷ lệ phôi. Cần chú ý cầu ao, với độ nghiêng không quá 25o và mặt cầu không trơn trượt, không gồ ghề để tránh dập vỡ buồng trứng.
– Thức ăn, nước uống:
Thức ăn cho vịt đẻ nuôi nhốt có hai dạng phổ biến sau, tùy điều kiện kinh tế và tính toán hiệu quả theo giá cả thị trường mà chọn loại hình đầu tư thức ăn cho phù hợp.
Nuôi vịt đẻ hoàn toàn bằng thức ăn hỗn hợp (thức ăn viên). Dùng thức ăn viên có chi phí thức ăn tương đối cao, nhưng bù lại là sự thuận tiện, dễ sử dụng, chủ động về số lượng, theo dõi mức ăn hằng ngày dễ dàng,… Trên thị trường hiện nay có nhiều loại thức ăn cho vịt đẻ. Không được nhầm lẫn thức ăn vịt đẻ hướng trứng (thường có tỷ lệ protein thấp hơn) với thức ăn cho vịt đẻ hướng thịt cao sản này. Tránh thay đổi liên tục loại thức ăn, như vậy sẽ ảnh hưởng đến năng suất vịt đẻ. Điều quan trọng là nguồn thức ăn phải ổn định về chất lượng, nguyên liệu đầu vào sản xuất thức ăn phải đảm bảo chất lượng và vệ sinh.
Một phương thức khác hiện nay nhiều hộ nuôi vịt đẻ CV Super-M2 cải tiến áp dụng khá hiệu quả là kết hợp thức ăn viên hỗn hợp và nguồn thức ăn tự nhiên như ốc tươi, còng tươi và lúa. Chúng tôi khuyến cáo không nên thay toàn bộ thức ăn hỗn hợp bằng thức ăn tự nhiên, vì nguồn thức ăn tự nhiên thay đổi theo mùa vụ, con nước nên không thể chủ động về số lượng, chất lượng. Chỉ nên dùng theo công thức 70 – 80% thức ăn viên + 20-30% được thay bằng hỗn hợp lúa + ốc tươi, còng tươi. Cứ 1 kg thức ăn viên vịt đẻ được thay bằng 1,1-1,2 kg lúa + 0,8-0,9 kg ốc tươi. Nếu dùng còng tươi, do giá còng đắt (3500 – 4000 đồng/kg so với ốc bươu vàng chỉ 700-1200 đồng/kg), nên lượng còng tươi dùng ít hơn, khoảng 20 – 30 gam/con/ngày.
Thí dụ:
Đàn vịt đẻ gồm 200 con mái và 35 con trống, tổng cộng 235 con. Mỗi ngày ăn 54 kg thức ăn, gồm:
Thức ăn viên vịt đẻ: 54 kg x 70% (38 kg).
16 kg thức ăn còn lại được thay bằng 13 – 14 kg lúa + 17 – 18 kg ốc tươi. Nếu là ốc bươu vàng thì phải đập dập vỏ trước khi cho ăn.
Rau xanh: 20 – 30 kg, tùy loại rau.
Chuyển đổi từ loại thức ăn hậu bị sang thức ăn vịt đẻ từ tuần tuổi 22, nhưng vẫn phải khống chế mức ăn hàng ngày cho đến khi vịt đẻ 30 – 50% mới cho ăn tự do để tránh vịt bị mập. Nếu vịt bị quá mập, tích mỡ nhiều ở khoang bụng, xung quanh buồng trứng, hạn chế sự phát triển của buồng trứng, vịt đẻ muộn, tỷ lệ đẻ thấp và tỷ lệ trứng nhỏ, trứng dị hình cao.
Bảng 6: Tỷ lệ vật chất khô và prôtêin thô của lúa và một số mồi tươi
Vịt đẻ cho ăn 2 bữa/ngày. Cho vịt ăn vào lúc trời mát.
Sử dụng máng ăn bằng gỗ, tôn hay nia mẹt, chậu. Một máng ăn bằng gỗ hay tôn có chiều dài 2 mét (Hình 2) đủ cho 70 – 100 con. Tránh để thức ăn ngoài mưa, nắng để bảo vệ chất lượng thức ăn. Những ngày nắng nóng, lượng thức ăn tiêu thụ giảm nhiều thì cần phải bổ sung thêm các chế phẩm bổ sung axít-amin và chất điện giải.
Cần có đủ nước uống cho vịt đẻ. Nhu cầu lượng nước uống hằng ngày bằng 3 – 4 lần lượng thức ăn tinh. Trước khi thả vịt xuống ao phải cho vịt uống no nước ngọt. Có thể dùng máng uống tự chế bằng tôn, chậu sành hay máng uống tự động (công ty CP có bán trên thị trường máng uống tự động bằng nhựa).
– Chiếu sáng
Thời gian chiếu sáng quy định là 17 giờ/ngày. Ngoài chiếu sáng tự nhiên khoảng 12 – 14 giờ, phải chiếu sáng nhân tạo bổ sung 3 – 5 giờ/ngày. Công suất chiếu sáng là 3 – 5 W/m2 nền chuồng (treo bóng đèn tròn 75W cách mặt nền chuồng 2 – 2,5 mét). Chiếu sáng hợp lý sẽ kích thích đẻ trứng và đảm bảo chất lượng trứng giống cao.
– Nhặt và bảo quản trứng
Vịt đẻ tập trung vào 2 – 4 giờ sáng, nhưng có thể đẻ muộn đến 8 – 9 giờ sáng. Nên nhặt trứng làm 2 – 3 lần để trứng được sạch sẽ và tránh dập vỡ. Trứng sau khi nhặt xong cần chọn ngay những quả đủ tiêu chuẩn giống để bảo quản. Trứng dơ bẩn có thể rửa bằng dung dịch có chứa chlorin theo nồng độ 1250 ppm. Cứ 10 lít nước ấm pha 50 gam chất có chứa 25% chlorin. Hãng Cherry Valley đưa ra quy định nhiệt độ nước trong quá trình rửa trứng là 37oC. Tuyệt đối không được rửa trứng bằng nước lã, nước dơ, vì như vậy vi trùng dễ xâm nhập làm thối trứng.
Trứng đựng vào khay, cần xé và bảo quản nơi khô mát. Nếu có phòng lạnh bảo quản ở nhiệt độ 18 – 20oC thì càng tốt. Trứng giống bảo quản 3 – 5 ngày, tối đa 7 ngày phải đưa ấp. Nếu để lâu hơn thì tỷ lệ chết phôi trong quá trình ấp sẽ tăng.
Nếu nuôi đúng kỹ thuật, vịt bắt đầu đẻ trứng lúc 24 tuần tuổi. Sau đây chúng tôi xin nêu một trường hợp để tham khảo, với sản lượng trứng bình quân 203 quả/mái/42 tuần đẻ. Qua đồ thị tham khảo này, người chăn nuôi có thể theo dõi, kiểm tra đàn vịt đẻ của mình. Trong thực tế không thể hoàn toàn đạt được một đồ thị đẻ trứng lý tưởng, nhưng nếu tỷ lệ đẻ dao động quá lớn (10% trở lên) là không tốt, cần phải kiểm tra lại ngay các khâu nuôi dưỡng.
Đàn vịt đẻ gồm 200 con mái và 35 con trống, tổng cộng 235 con. Mỗi ngày ăn 54 kg thức ăn, gồm:
Thức ăn viên vịt đẻ: 54 kg x 70% (38 kg).
16 kg thức ăn còn lại được thay bằng 13 – 14 kg lúa + 17 – 18 kg ốc tươi. Nếu là ốc bươu vàng thì phải đập dập vỏ trước khi cho ăn.
Rau xanh: 20 – 30 kg, tùy loại rau.
Chuyển đổi từ loại thức ăn hậu bị sang thức ăn vịt đẻ từ tuần tuổi 22, nhưng vẫn phải khống chế mức ăn hàng ngày cho đến khi vịt đẻ 30 – 50% mới cho ăn tự do để tránh vịt bị mập. Nếu vịt bị quá mập, tích mỡ nhiều ở khoang bụng, xung quanh buồng trứng, hạn chế sự phát triển của buồng trứng, vịt đẻ muộn, tỷ lệ đẻ thấp và tỷ lệ trứng nhỏ, trứng dị hình cao.
Bảng 6: Tỷ lệ vật chất khô và prôtêin thô của lúa và một số mồi tươi
Vịt đẻ cho ăn 2 bữa/ngày. Cho vịt ăn vào lúc trời mát.
Sử dụng máng ăn bằng gỗ, tôn hay nia mẹt, chậu. Một máng ăn bằng gỗ hay tôn có chiều dài 2 mét (Hình 2) đủ cho 70 – 100 con. Tránh để thức ăn ngoài mưa, nắng để bảo vệ chất lượng thức ăn. Những ngày nắng nóng, lượng thức ăn tiêu thụ giảm nhiều thì cần phải bổ sung thêm các chế phẩm bổ sung axít-amin và chất điện giải.
Cần có đủ nước uống cho vịt đẻ. Nhu cầu lượng nước uống hằng ngày bằng 3 – 4 lần lượng thức ăn tinh. Trước khi thả vịt xuống ao phải cho vịt uống no nước ngọt. Có thể dùng máng uống tự chế bằng tôn, chậu sành hay máng uống tự động (công ty CP có bán trên thị trường máng uống tự động bằng nhựa).
– Chiếu sáng
Thời gian chiếu sáng quy định là 17 giờ/ngày. Ngoài chiếu sáng tự nhiên khoảng 12 – 14 giờ, phải chiếu sáng nhân tạo bổ sung 3 – 5 giờ/ngày. Công suất chiếu sáng là 3 – 5 W/m2 nền chuồng (treo bóng đèn tròn 75W cách mặt nền chuồng 2 – 2,5 mét). Chiếu sáng hợp lý sẽ kích thích đẻ trứng và đảm bảo chất lượng trứng giống cao.
– Nhặt và bảo quản trứng
Vịt đẻ tập trung vào 2 – 4 giờ sáng, nhưng có thể đẻ muộn đến 8 – 9 giờ sáng. Nên nhặt trứng làm 2 – 3 lần để trứng được sạch sẽ và tránh dập vỡ. Trứng sau khi nhặt xong cần chọn ngay những quả đủ tiêu chuẩn giống để bảo quản. Trứng dơ bẩn có thể rửa bằng dung dịch có chứa chlorin theo nồng độ 1250 ppm. Cứ 10 lít nước ấm pha 50 gam chất có chứa 25% chlorin. Hãng Cherry Valley đưa ra quy định nhiệt độ nước trong quá trình rửa trứng là 37oC. Tuyệt đối không được rửa trứng bằng nước lã, nước dơ, vì như vậy vi trùng dễ xâm nhập làm thối trứng.
Trứng đựng vào khay, cần xé và bảo quản nơi khô mát. Nếu có phòng lạnh bảo quản ở nhiệt độ 18 – 20oC thì càng tốt. Trứng giống bảo quản 3 – 5 ngày, tối đa 7 ngày phải đưa ấp. Nếu để lâu hơn thì tỷ lệ chết phôi trong quá trình ấp sẽ tăng.
Nếu nuôi đúng kỹ thuật, vịt bắt đầu đẻ trứng lúc 24 tuần tuổi. Sau đây chúng tôi xin nêu một trường hợp để tham khảo, với sản lượng trứng bình quân 203 quả/mái/42 tuần đẻ. Qua đồ thị tham khảo này, người chăn nuôi có thể theo dõi, kiểm tra đàn vịt đẻ của mình. Trong thực tế không thể hoàn toàn đạt được một đồ thị đẻ trứng lý tưởng, nhưng nếu tỷ lệ đẻ dao động quá lớn (10% trở lên) là không tốt, cần phải kiểm tra lại ngay các khâu nuôi dưỡng.
– Chích ngừa bệnh dịch tả vịt:
Đối với vịt, dịch tả vịt là bệnh bắt buộc phải chích ngừa. Hiện nay, trên thị trường có một số loại vắc xin được sản xuất trong và ngoài nước. Trại vịt giống VIGOVA nhiều năm qua sử dụng vắc xin của công ty thuốc thú y TW2, TP. Hồ Chí Minh. Loại vắc xin này dễ sử dụng, hiệu quả cao và giá rẻ. Pha vắc-xin với nước sinh lý và chích dưới da cổ hay bắp đùi.
Lịch chích ngừa cho vịt bố mẹ như sau:
18 ngày tuổi: 0,5 cc/con.
8 – 9 tuần tuổi (sau khi chọn vịt hậu bị): 1 cc/con.
21 tuần tuổi: 1 cc/con.
Những nơi có nguy cơ bệnh cao, có thể chích nhắc lại vào giữa chu kỳ đẻ trứng (sau 6 – 7 tháng đẻ), nhưng phải thận trọng vì có thể làm giảm tỷ lệ đẻ.
Trích dẫn
nguồn: http://vuonchimviet.com/ky-thuat-nuoi-vit-troi-sinh-san/
Chủ Nhật, 19 tháng 11, 2017
Siêu độc: Một cây cam Vinh "vỡ kế hoạch" có 1.000 quả, trả 20 triệu
Đây là cây cam trong vườn cam Vinh rộng 5 ha của gia đình anh Dương Đình Tấn - Chủ nhiệm HTX Nông nghiệp Tổng hợp Tấn Thanh tại xóm Minh Chùa, xã Minh Hợp, huyện Quỳ Hợp (Nghệ An). Cây cam này thuộc giống Xã Đoài muộn do anh trồng cách đây 7 năm, theo đánh giá của giới trồng cam Vinh Quỳ Hợp thì cây cam này độc nhất vô nhị.

Những quả cam to mọng nước ở cây cam 1000 quả
Theo chân anh Dương Đình Tấn trú tại xóm Dinh, xã Nghĩa Xuân, huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) vào vườn cam của gia đình ở xóm Minh Chùa, xã Minh Hợp, huyện Quỳ Hợp.
Ngồi trên chiếc xe máy, vượt qua hơn 5 km đường đồi núi, trơn trượt chúng tôi đã đến khu trai trại trồng cam của gia đình anh Tấn. Tại đây chúng tôi chứng kiến hàng trăm gốc Cam Vinh của gia đình anh Tấn sai chi chít quả, vàng óng một góc đồi.
Dẫn chúng tôi đi thăm từng gốc cam trĩu quả, chuẩn bị đến ngày thu hoạch, anh Tấn tươi cười cho hay: Cách đây 7 năm, do kinh tế khó khăn, những năm trước trồng mía cũng không được ổn định nên tôi cùng vợ quyết định vay mượn để trồng cam Vinh, giống cam của tôi chủ yếu được chọn lọc từ các giống cam Xã Đoài muộn, Xã Đoài Sơn, Cam V1, V2...Sau quá trình trồng và chăm sóc đúng kỷ thuật thì đến năm thứ 3 mới cho quả, từ đó gia đình cũng dần ổn định kinh tế..."
"Năm nay theo quy trình kỹ thuật, tôi vẫn bón phân và tưới nước nhỏ giọt như mọi năm. Không ngờ trong vườn cam của gia đình tôi năm nay có được 1 cây cam cho khoảng hơn 3 tạ quả, rất nhiều người đến gạ mua 20 triệu để làm cây cảnh và làm quà biếu nhưng tôi không bán. Cây cam này rất quý, rất nhiều năm nữa nó có thể cho ra quả rất nhiều..."
Theo quan sát của PV Dân Việt, cây cam hơn 3 tạ này cao chừng 2,5m tán rộng xum xuê, quả nào quả đó vàng óng một, không thể đếm xuể. Đặc biệt lá cây cam xanh mượt, không có quả cam nào bị rụng.
Theo anh Dương Đình Tấn: "Năm nay vườn cam của tôi cho thu hoạch 65 đến 70 tấn quả. Tuy nhiên không có cây cam nào nhiều quả như cây cam này. Tôi nhiều lúc đếm quả nó nhưng không thể đếm được, tôi chăm sóc cây này cũng như bao cây khác trong vườn những sao nó ra hoa và kết quả nhiều như vậy".
Được biết gia đình anh Tấn trồng cam theo tiêu chuẩn VietGAP.
Dưới đây là hình ảnh cây cam hơn 3 tạ quả, gần 20 triệu đồng:

Một chùm cam vàng óng của cây cam hơn 3 tạ quả. Ảnh: Cảnh Thắng

Cây cam sai chi chít quả của gia đình anh Dương Đình Tấn ở xóm Dinh, xã Nghĩa Xuân, huyện Quỳ Hợp (Nghệ An). Ảnh: Cảnh Thắng

Một góc cây cam hàng trăm quả chi chít trên cành. Ảnh: Cảnh Thắng

Dù ở trên ngọn của cây cam quả cũng ra chi chít. Ảnh: Cảnh Thắng



Không thể đếm hết quả trên cây cam 3 tạ quả này, nhưng chủ nhân ước tính hơn 1.000 quả. Ảnh: Cảnh Thắng

Những quả cam to mọng nước ở cây cam 1000 quả
Theo chân anh Dương Đình Tấn trú tại xóm Dinh, xã Nghĩa Xuân, huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) vào vườn cam của gia đình ở xóm Minh Chùa, xã Minh Hợp, huyện Quỳ Hợp.
Ngồi trên chiếc xe máy, vượt qua hơn 5 km đường đồi núi, trơn trượt chúng tôi đã đến khu trai trại trồng cam của gia đình anh Tấn. Tại đây chúng tôi chứng kiến hàng trăm gốc Cam Vinh của gia đình anh Tấn sai chi chít quả, vàng óng một góc đồi.
Dẫn chúng tôi đi thăm từng gốc cam trĩu quả, chuẩn bị đến ngày thu hoạch, anh Tấn tươi cười cho hay: Cách đây 7 năm, do kinh tế khó khăn, những năm trước trồng mía cũng không được ổn định nên tôi cùng vợ quyết định vay mượn để trồng cam Vinh, giống cam của tôi chủ yếu được chọn lọc từ các giống cam Xã Đoài muộn, Xã Đoài Sơn, Cam V1, V2...Sau quá trình trồng và chăm sóc đúng kỷ thuật thì đến năm thứ 3 mới cho quả, từ đó gia đình cũng dần ổn định kinh tế..."
"Năm nay theo quy trình kỹ thuật, tôi vẫn bón phân và tưới nước nhỏ giọt như mọi năm. Không ngờ trong vườn cam của gia đình tôi năm nay có được 1 cây cam cho khoảng hơn 3 tạ quả, rất nhiều người đến gạ mua 20 triệu để làm cây cảnh và làm quà biếu nhưng tôi không bán. Cây cam này rất quý, rất nhiều năm nữa nó có thể cho ra quả rất nhiều..."
Theo quan sát của PV Dân Việt, cây cam hơn 3 tạ này cao chừng 2,5m tán rộng xum xuê, quả nào quả đó vàng óng một, không thể đếm xuể. Đặc biệt lá cây cam xanh mượt, không có quả cam nào bị rụng.
Theo anh Dương Đình Tấn: "Năm nay vườn cam của tôi cho thu hoạch 65 đến 70 tấn quả. Tuy nhiên không có cây cam nào nhiều quả như cây cam này. Tôi nhiều lúc đếm quả nó nhưng không thể đếm được, tôi chăm sóc cây này cũng như bao cây khác trong vườn những sao nó ra hoa và kết quả nhiều như vậy".
Được biết gia đình anh Tấn trồng cam theo tiêu chuẩn VietGAP.
Dưới đây là hình ảnh cây cam hơn 3 tạ quả, gần 20 triệu đồng:

Một chùm cam vàng óng của cây cam hơn 3 tạ quả. Ảnh: Cảnh Thắng

Cây cam sai chi chít quả của gia đình anh Dương Đình Tấn ở xóm Dinh, xã Nghĩa Xuân, huyện Quỳ Hợp (Nghệ An). Ảnh: Cảnh Thắng

Một góc cây cam hàng trăm quả chi chít trên cành. Ảnh: Cảnh Thắng

Dù ở trên ngọn của cây cam quả cũng ra chi chít. Ảnh: Cảnh Thắng



Không thể đếm hết quả trên cây cam 3 tạ quả này, nhưng chủ nhân ước tính hơn 1.000 quả. Ảnh: Cảnh Thắng
nguồn: http://www.24h.com.vn/thi-truong-tieu-dung/sieu-doc-mot-cay-cam-vinh-vo-ke-hoach-co-1000-qua-tra-20-trieu-c52a918152.html
Hướng dẫn quy trình chăn nuôi gà thả vườn

Ảnh minh họa
I. Xây dựng chuồng trại
+ Nền phải kiên cố, chắc để dễ vệ sinh, dễ sát trùng tiêu độc, nền có độ dốc thích hợp dễ thoát nước, không ẩm ướt, tránh bị chuột đào bới. Bởi vậy, nền chuồng thường láng xi-cát hoặc lát gạch.
+ Diện tích nền chuồng tùy thuộc vào quy mô, mức độ thâm canh nhưng phải đảm bảo đủ rộng. Chuồng nuôi gà con 10 – 12 con/m2, Chuồng nuôi gà dò 5 – 6 con/m2.
+ Mái chuồng làm bằng vật liệu khó hấp thu nhiệt để chống nóng. Mái có thể lợp bằng tole hoặc mái lá, lợp qua vách chuồng khoảng 1 m để tránh mưa, hắt làm ướt nền chuồng. Làm một mái hoặc 2 mái.
+ Tường vách chuồng: Xây cách hiên 1 – 1,5 m , vách chỉ nên xây cao 30 – 40 cm còn phía trên dùng lưới thép hoặc phên nứa. Trường hợp tường vách được coi là tường bao thì phải có thêm cửa sổ để chuồng thông thoáng
+ Rèm che: Dùng vải bạt, bao tải, … Che cách vách tường 20 cm phía ngoài chuồng nuôi, nhằm bảo vệ cho gia cầm tránh được mưa, gió rét nhất là ở giai đoạn gà nhỏ.
+ Chuồng được ngăn làm nhiều ô, tùy diện tích nhưng ít nhất nên ngăn thành 2 – 3 ô để dễ quản lý đàn gà nhất là gà sinh sản. Nên ngăn ô bằng lưới thép hoặc nan tre đảm bảo thông thoáng.
+ Hệ thống cống rãnh: Chuồng nuôi bắt buộc phải có hệ thống cống rãnh ngầm, đồng thời có đường thoát nước bên ngoài để tránh hiện tượng đọng nước xung quanh tường.
+ Chuồng làm cao 1,5 m, dài 2,5 m, rộng 2m. Chuồng có 1 hoặc 2 cửa cho gia cầm ra vào.
Chuồng phải được vệ sinh khử trùng tiêu độc trước khi nuôi. Có thể dùng Formol 2% với liều 1ml/m2, Paricolin 0,05% hoặc disinfecton 0,05% trước khi bắt gà về nuôi từ 7- 15 ngày.
II. Chuẩn bị vườn thả (bãi chăn)
– Bãi thả nên có cây bóng mát (trồng cây ăn quả hoặc cây lâm nghiệp), có trồng cỏ xanh là nguồn thức ăn có chứa nhiều vitamin, khoáng, là nguồn dinh dưỡng cho gà. Có thể làm lán tạm để treo thêm máng ăn (chú ý tránh mưa ướt) và máng uống cho gà trong thời gian chăn thả. Cây bóng mát trồng cách hiên chuồng nuôi 4 – 5 m, tán cây che nắng phải cao hơn chiều cao mái hiên chuồng nuôi để tăng cường thông thoáng.
– Có bãi thả gà tự do, vận động. Trên bãi thả gà có thể tìm được một số thức ăn, tắm nắng để tạo vitamin làm xương rắn chắc, sức khỏe tốt, ít bị bệnh.
– Vườn thả phải đủ diện tích cho gà vận động và kiếm thêm thức ăn. Yêu cầu diện tích bãi chăn thả tối thiểu là từ 0,5 đến 1m2/gà, bãi chăn bố trí cả hai phía (trước và sau) của chuồng nuôi và thực hiện chăn thả luân phiên, sẽ tốt hơn là sử dụng bãi chăn thả một phía. Bãi chăn bố trí chạy dọc theo chiều dài chuồng nuôi, sao cho khoảng cách từ cửa chuồng đến hàng rào không quá xa, gà dễ ra vào (đặc biệt khi gặp thời tiết bất thường xấu).
– Bãi chăn thả được san lấp bằng phẳng, dễ thoát nước, không có vũng nước tù đọng, không có rác bẩn, vật lạ ở trong bãi chăn, định kỳ thu dọn lông gà rơi vãi ở bãi chăn. Thường xuyên duy trì thảm thực vật ở bãi chăn để có môi sinh, môi trường tốt cho khu trang trại, hơn nữa còn bổ sung thêm nguồn thức ăn xanh, giàu vitamin cho gà.
– Bao xung quanh bãi chăn nên sử dụng lưới mắt cáo hoặc rào bằng phên tre,… Sao cho thông thoáng nhưng chắc chắn, chống người, thú hoang, hoặc thú nuôi xâm nhập và gà không thể vượt qua
– Bãi chăn phải thường xuyên vệ sinh và định kỳ phụ tiêu độc.
III. Chuẩn bị quây úm và phương pháp sưởi ấm gà con
– Quây gà làm bằng cót, tấm nhựa hoặc dùng lưới thép và bên ngoài bọc bằng bạt…
– Quây úm được bố trí trong phòng úm, không nên làm gần cửa ra vào tránh gió lùa. Có thể dùng các tấm mây bồ, tôn .. có chiều cao 0,5 m, quây vòng tròn có đường kính 2,8 – 3,0 m. Một quây gà đường kính như trên nuôi được 400 gà con vào mùa hè và 500 con vào mùa đông.
– Mùa hè ngày tuổi thứ 5 thì nới rộng quây và đến ngày thứ 10 thì có thề tháo bỏ quây. Mùa đông ngày tuổi thứ 7 thì nới rộng quây và cuối tuần thứ 2 – 3 thì có thể tháo bỏ quây.
– Bố trí trong quây úm: Khay, mẹt cho gà con ăn và máng uống nhỏ được bố trí xen kẽ nhau trong quây đảm bảo cho gà con ăn uống được thuận tiện. Chụp sưởi (làm bằng tôn dạng hình nón có đường kính rộng 60 đến 80cm, bên trong khoét 3 lỗ so le nhau để lắp bóng điện, ở nóc chụp có móc để buộc dây treo) dùng bóng điện, bóng hồng ngoại để cung cấp nhiệt sưởi, chụp sưởi có tác dụng hứng nhiệt và tập trung nhiệt để tăng khả năng cấp nhiệt cho gà, ngoài ra làm chụp sưởi sẽ không làm cho nhiệt thoát ra ngoài nên tiết kiệm được điện… chụp sưởi thường treo giữa quây gà, treo cao 40 – 50 cm so với mặt nền.
* Sưởi ấm cho gà :
Chụp sưởi đặt cách mặt nền 30 – 40 cm. Điều chỉnh dụng cụ sưởi ấm cho gà tùy thuộc vào nhiệt độ môi trường và tuổi gà. Trong quây gà và chuồng nuôi, nhiệt kế nên đặt tầm ngang lưng gà. Gà con đủ nhiệt sẽ an uống tốt, khoẻ mạnh lớn nhanh và ít bệnh; nếu gà bị thiếu nhiệt khi úm thì sẽ an uống kém, hay mắc bệnh, nhiều gà còi cọc, tỷ lệ hao hụt cao,…
Bằng cách quan sát hoạt động của gà, ta cũng có thể đánh giá được nhiệt độ có phù hợp hay không để điều chỉnh chụp sưởi cho thích hợp.
+ Khi nhiệt độ cao quá yêu cầu : Đàn gà tỏa ra xung quanh sát vòng quây, tránh xa chụp sưởi, há mỏ để thở, uống nhiều, ăn ít.
+ Khi nhiệt độ thấp dưới yêu cầu : Đàn gà quây xung quanh chụp sưởi, tụ đông lên nhau ngay dưới chụp sưởi, kêu nhiều, ăn uống ít
+ Khi nhiệt độ thấp dưới yêu cầu : Đàn gà quây xung quanh chụp sưởi, tụ
đông lên nhau ngay dưới chụp sưởi, kêu nhiều, ăn uống ít
+ Khi nhiệt độ thích hợp : Đàn gà phân bố đều trong quây, ham ăn uống,
kêu ít (yên tĩnh).
+ Nếu gà tụm lại một phía trong quây : có thể bị gió lùa, cần phát hiện và
che hướng gió.

IV. Chọn gà con
Xác định tiêu chuẩn gà con 1 ngày tuổi
– Khối lượng sơ sinh lớn (35 – 36g/con)
– Khỏe mạnh, tinh nhanh, hoạt bát, thân hình cân đối.
– Mắt tròn sáng mở to
– Chân thẳng đứng vững, ngón chân không vẹo
– Lông khô, bông tơi xốp, sạch, mọc đều
– Đuôi cánh áp sát vào thân
– Bụng thon và mềm
– Rốn khô và kín
– Đầu to cân đối, cổ dài và chắc
– Mỏ to chắc chắn, không vẹo, 2 mỏ khép kín.
V. Cho gà ăn, uống
1. Cho gà con ăn, uống
– Cho gà ăn, uống giai đoạn úm từ 0 – 3 tuần tuổi:
+ Cho gà ăn: Dùng thức ăn gà con chủng loại 1 – 21 ngày (nếu là thức ăn hỗn hợp viên), nếu thức ăn tự chế biến phải căn cứ vào chế độ dinh dưỡng có trong 1kg thức ăn hỗn hợp để phối trộn các nguyên liệu đáp ứng đủ nhu cầu. Nguyên liệu thức ăn phải có chất lượng tốt. Rải mỏng, đều thức ăn lên khay ăn hoặc mẹt có độ dầy 1cm, sau đó từ 2 – 3 giờ dùng bay sắt cạo sạch thức ăn lẫn phân có trong khay đem sàng để gạt bỏ phân ra ngoài, tận thu thức ăn cũ và tiếp thêm lượt mỏng thức ăn mới để cho gà ăn. Cho gà ăn tự do cả ngày đêm, bổ sung thêm thức ăn cho gà trong một ngày đêm từ 8-10 lần. Khi gà được 3 tuần tuổi trở đi thay thế khay ăn bằng máng ăn cỡ trung bình P30.
+ Cho gà uống nước: Dùng máng uống gallon chứa nước cho gà uống, 2 tuần đầu dùng máng cỡ 1,5-2,0 lít, các tuần sau dùng máng cỡ 4,0 lít. Đế máng uống kê thật phẳng bằng gạch mỏng cao hơn độn lót chuồng từ 1cm đến 3cm tùy theo độ lớn của gà để gà không bới độn lót vào làm bẩn nước uống. Máng uống đặt xen kẽ với khay ăn. Máng uống được rửa sạch hàng ngày theo quy định, hàng ngày thay nước uống cho gà khoảng 4 lần(sáng, chiều, tối, và giữa đêm).
– Cho gà ăn, uống giai đoạn từ 4 – 9 tuần tuổi:
+ Cho gà ăn: Dùng thức ăn gà dò chủng loại 21 – 42 ngày (nếu là thức ăn hỗn hợp viên), nếu thức ăn tự chế biến phải căn cứ vào chế độ dinh dưỡng có trong 1kg thức ăn hỗn hợp để phối trộn các nguyên liệu đáp ứng đủ nhu cầu. Nguyên liệu thức ăn phải có chất lượng tốt.
Chuyển đổi thức ăn dần cho gà ăn theo cách phối hợp sau:
1. Ngày thứ nhất 75% thức ăn cũ và 25% thức ăn mới
2. Ngày thứ hai 50% thức ăn cũ và 50% thức ăn mới
3. Ngày thứ ba 25% thức ăn cũ và 75% thức ăn mới
4. Ngày thứ tư cho ăn 100% thức ăn mới
Cho gà ăn bằng máng trung P30, sau đó chuyển dần cho gà ăn bằng máng đại P50, đổ thức ăn vào máng có chiều cao bằng 1/2 của thân máng, định kỳ 2 giờ lắc máng cho thức ăn rơi xuống. Máng được treo bằng dây sao cho miệng máng cao ngang lưng gà. Mật độ máng ăn cho gà theo yêu cầu: 30 con – 40 con/máng. Cho gà ăn tự do cả ngày đêm, bổ sung thêm thức ăn cho gà trong một ngày đêm từ 2 lần (sáng, tối) hoặc 4 lần (sáng, chiều, tối, đêm).
+ Cho gà uống nước: Dùng máng uống gallon chứa nước cho gà uống, dùng máng cỡ 4,0 lít hoặc 8 lít. Để máng uống kê thật phẳng bằng gạch cao hơn độn lót chuồng từ 4 cm đến 5 cm để gà không bới độn lót vào làm bẩn nước uống. Máng uống đặt với số lượng 100 con cho 1 máng. Máng uống được rửa sạch hàng ngày theo quy định của thú y, hàng ngày thay nước uống cho gà khoảng 4 lần (sáng, chiều, tối, và giữa đêm).
2. Cho gà thịt ăn, uống
Lượng nước uống đầy đủ cho gà hàng ngày. Không bao giờ để gà khát nước, máng hết nước. Nếu đàn gà nuôi mà không được uống nước trong 1 ngày thì 2 ngày tiếp theo gà sẽ không tăng trưởng được về khối lượng và sẽ chậm lớn trong 1,5 tháng sau đó. Lượng nước uống hàng ngày của gà có thể khác nhau tùy theo mùa, nhưng trung bình lượng nước mà đàn gà tiêu thụ hàng ngày gấp đôi lượng thức ăn. Do vậy, căn cứ vào tuổi của gà, lượng thức ăn ăn vào và nhiệt độ môi trường để tính lượng nước cho gà uống, đặc biệt khi pha thuốc tăng sức đề kháng, phòng bệnh, chữa bệnh cho đàn gà.
Thức ăn được cho ăn theo nhu cầu của gà. Cần chia làm nhiều đợt để theo dõi lượng thức ăn tiêu thụ, tránh để thức ăn dư thừa.
+ Theo dõi khả năng tiêu thụ thức ăn
– Theo dõi và ghi chép đầy đủ mức tiêu thụ thức ăn hàng ngày của gà theo giai đoạn.
+ Xác định nhu cầu dinh dưỡng
– Dựa trên giống gà nuôi, các lứa tuổi khác nhau để xác định nhu cầu dinh dưỡng cho gà theo các giai đoạn cho đúng tiêu chuẩn.
– Ngoài ra chúng ta cần căn cứ vào mùa vụ để xác định nhu cầu protein, năng lượng trao đổi, vitamin và khoáng cho từng loại gà khác nhau.
– Thực tế sản xuất người ta chia thức ăn cho gà thịt được chia làm 3 giai đoạn như sau:
+ Khẩu phần thức ăn khởi động cho gà 1 – 21 ngày tuổi
+ Khẩu phần thức ăn tăng trưởng cho gà 22 – 35 (hoặc 42) ngày tuổi
+ Khẩu phần thức ăn vỗ béo sau 36 ngày tuổi đến xuất chuồng.
VI. Chăm sóc gà
1. Theo dõi tình trạng sức khoẻ đàn gà
– Đối với gà nuôi thịt: Đầu tuần thứ 5 chỉ thả gà 2 giờ/ ngày cho gà tập làm quen. sau đó đuổi gà vào chuồng, nhũng buổi sau tăng dần thời gian thả từ 30 phút đến 1 giờ, như vậy sau khoảng 10 ngày là thả gà tự do. Trước khi mở cửa, gà đã được cho ăn, uống khá đầy đủ, đặc biệt, nước uống có pha kháng sinh, vitamin.
– Hàng ngày quan sát đàn gà, phát hiện những biểu hiện không bình thường để có biện pháp xử lý kịp thời.
2. Vệ sinh chuồng trại, dụng cụ nuôi gà
– Giai đoạn úm hàng ngày kiểm tra và dọn rìa xung quanh máng uống độn chuồng bị ướt, xới đảo độn lót chuồng từ 7 – 10 ngày/lần và bổ sung thêm lượt mỏng độn lót. Không thay độn lót chuồng thường xuyên.
– Để đảm bảo cho đàn gà khỏe mạnh, chuồng nuôi, vườn chăn thả phải thường xuyên vệ sinh sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng hoặc vôi bột 15 ngày/ lần. Phòng bệnh cho gà theo đúng lịch.
– Định kỳ xới đảo, bổ sung chất độn chuồng để đảm bảo độ dày cần thiết và làm cho chất độn chuồng luôn khô, tơi xốp
– Thường xuyên kiểm tra chất độn chuồng nếu bị ướt phải hốt ra ngoài và bổ sung chất độn chuồng mới.
– Máng ăn hàng ngày phải vệ sinh bằng cách dùng khăn lau sạch trước khi đổ thức ăn, tiêu độc máng ăn 1 lần/tuần.
– Máng uống hàng ngày phải cọ rửa và sát trùng.
– Phun thuốc sát trùng toàn bộ chuồng nuôi 1 lần/tuần trong trường hợp khu vực không có dịch bệnh và 3 ngày/lần khi khu vực xung quanh có dịch bệnh.
– Hàng ngày phải thay thuốc sát trùng trong khay để trước cửa ra vào chuồng nuôi.
– Thường xuyên dãy cỏ xung quanh chuồng nuôi, hàng tuần phải phun thuốc sát trùng tiêu độc
VI. Phòng bệnh:
Có nhiều bệnh trên gà, nhưng tập trung các bệnh sau:
Bệnh phải phòng nhiễm Vacxin phải dùng Loại vacxin Cách pha, sử dụng Vị trí, đường cho vacxin Tuổi dùng vacxin
Niucatxơn
(dịch tả) Lasota hoặc V4 Nhược độc đông khô 100 liều/lọ +30ml nước cất Nhỏ vào mắt, nũi cho gà 3-7 ngày tuôi (lần 1)
Niucatxơn Lasota hoặc V4 Nhược độc đông khô 100 liều/lọ +1lít nước cất Cho gà uống trong ngày 18-20 ngày tuổi (lần 2)
Niucatxơn hệ 1 (H1) Nhược độc đông khô 100 liều/lọ +30ml nước cất Tiêm dưới da cánh: 0,2ml/gà 35-40 ngày tuổi (lần 3)
Bệnh Gumboro Gumboro (dùng 1 trong 3 loại: D78, Bur 706, Medivac GumboroB) Nhược độc đông khô 100 liều/lọ + 30ml nước cất Nhỏ mũi, miệng gà, 2-3 giọt/con 1-3 ngày tuổi (lần 1)
Bệnh Gumboro 1 trong 3 loại vacxin: D78, Bur 706, Medivac-Gumboro B Nhược độc đông khô 100 liều/lọ + 11 lít nước cất Cho gà uống trong ngày 14-15 ngày tuổi (lần 2)
Bệnh đậu gà Vacxin đậu gà Nhược độc đông khô 100 liều/lọ + 1ml nước cất Lấy ngòi bút sạch, luộc vô trùng, chấm vào vacxin rồi rạch nhẹ 2 lần dưới cánh gà 14-15 ngày tuổi (chỉ dùng 1 lần)
Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm (IB) Vacxin IB (chủng H120) Nhược độc đông khô 100 liều/lọ + 30ml nước cất Nhỏ mũi, miệng cho gà: 2-3 giọt/con 1-2 ngày tuổi (lần 1)
Vacxin IB (chủng H52) Nhược độc đông khô 100 liều/lọ +1 lít nước cất Cho gà uống trong ngày 28-30 ngày tuổi (lần 2)
Bệnh tụ huyết trùng Vacxin THT gia cầm Vacxin chết keo phèn 50ml/lọ Tiêm cho gà: 02ml/gà (đùi, lườn gà) 40 ngày tuổi (chỉ tiêm 1 lần)
Nguồn : sưu tầm internet
Thứ Bảy, 18 tháng 11, 2017
Kỹ thuật trồng cây cam Vinh

Mô tả giống
* Tên: Cam có tên khoa học là Citrus × sinensis. Cây Cam ở Trung tâm bán hiện nay là Cam ghép nên chỉ sau 4 năm trồng là bắt đầu có quả.
* Giá trị sử dụng: Cam Vinh là một đặc sản lâu đời của Miền trung xứ nghệ, với vị thơm, ngọt đặc trưng được ưa chuộng. Cam là một trong những loại trái cây có chứa tinh dầu mang mùi thơm và chứa nhiều vitamin C, rất mát và bổ dưỡng cho cơ thể, có tác dụng giải độc, lợi tiểu …
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
* Thời vụ trồng: Ở các tỉnh phía Bắc thời vụ trồng cam quýt là mùa xuân (Tháng 2 – 4) hoặc mùa thu. Nhưng tốt nhất là trồng vào mùa xuân hoặc đầu mùa mưa. – Mật độ: Mật độ trồng nên trồng 4 x 5 m. – Đào hố: kích thước 0,8 x 0,8 x 0,8m hoặc 1 x 1 x 1m, khi đào hố cần lưu ý để lớp đất mặt về một phía, lớp đất phía dưới về một phía. Sau khi đào hố xong, hố được phơi khô ít nhất là 1 tháng, dùng 1kg vôi bột rắc xung quanh hố. Ở các vùng đất cứng, thoát nước kém hố đào sâu có thể trở thành vũng nước mưa, gây nghẹt rễ, cần có biện pháp thoát nước.
* Bón lót: Mỗi hố bón từ 50- 80kg phân chuồng hoai mục + 1kg P2O5 + 5 – 10 kg xỉ than trộn với lớp đất phía dưới cho vào hố, lớp đất mặt + 100g urê + 100g K 2O5. Trồng xong nên phủ gốc để chống thoát hơi nước và cỏ dại, phủ cách gốc 10cm.
*Làm cỏ: Cỏ xung quanh gốc cần được nhổ sạch. Phần đường lô nên chỉ cắt cỏ để giữ ẩm, chống xói mòn đất và là nơi cư trú của côn trùng có ích trong vườn cam.
*Tỉa cành tạo tán: Sau khi trồng cây đã ổn định tiến hành cắt cành ngọn để tạo tán cho cây phát triển thành 3-4 cành cấp I theo 4 hướng, từ mỗi cành cấp I lại để 3-4 cành cấp II… Các cành vượt cũng thường xuyên cắt tỉa (chú ý cắt sát thân cành để tạo mô sẹo). Cành mang quả nhiều cũng cần tỉa quả để quả phát triển đồng đều.
*Tưới nước: Sau khi trồng nên tưới nước 2-3 lần để tạo điều kiện cho rễ phát triển. Những nơi có hệ thống tưới cần chú ý tưới cho cây ở thời kỳ phát lộc hoặc sau các đợt bón phân.
* Bón phân: Bón phân nhằm cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cây bao gồm nguyên tố đa lượng (N, P, K, Ca), các nguyên tố vi lượng (Bo, Cu, Zn, Mn, Mg…) để cây sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng cao, tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh hại. Hàng năm cần bón bổ sun g 30- 40kg phân chuồng hoặc phân hữu cơ/cây kết hợp với bón phân hoá học. Cách bón: Đào rãnh sâu 25-30cm theo tán cây, bón rồi lấp đất lại và tưới nước.

3. Phòng trừ sâu, bệnh hại
– Sâu vẽ bùa: . Sâu phá hoại mạnh nhất là từ tháng 2 – tháng 10. Phun thuốc Trebon hoặc Sherpa pha với nồng độ 1/1000 – 1,5/1000 phòng 1-2 lần trong mỗi đợt cây có lộc non là hiệu quả nhất (lúc lá non dài1-2 cm). Khi xuất hiện sâu thì dùng 1 trong 2 loại thuốc trên nhưng + dầu Cantect để phun trừ thì diệt sâu mới có hiệu quả. Ph un ướt hết mặt lá.
– Sâu đục thân, đục cành: Xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 9. Cần bắt sâu trưởng thành (Xén tóc, phát hiện sớm vết đục, dùng dây thép nhỏ luồn vào lỗ đục để bắt sâu non, Sau thu hoạch (tháng 11 – 12) quét vôi vào gốc cây để diệt trứng, Bơm các loại thuốc xông hơi như Ofatox 400 EC 0,1%; Supracide 40ND 0,2% vào các vết đục, sau đó dùng đất dẻo bít miệng lỗ lại để diệt sâu.
– Nhện đỏ: Dùng thuốc Monocrophos 56% để phun với nồng độ 1- 2% (10- 20 ml thuốc/10l nước), thuốc Methamidophos 600 dạng nước pha nồng độ 1- 2% hoặc dùng Kentan pha nồng độ 1- 2/1000 phun lúc cây đang ra lộc non để phòng. Nếu đã bị phá hại phải phun liên tục 5- 7 ngày/lần.
– Bệnh loét cam quýt và bệnh sẹo: Phun boocđô 1-2% hoặc thuốc Kasuran 1/1000. – Bệnh chảy gôm : Dùng thuốc boocđô 1-2% để phun trên cây và đổ trực tiếp vào vết bệnh. Ngoài ra có thể dùng Aliette hoặc benlat pha với nồng độ 2/1000 để xử lý các vết bệnh và phun trên lá.
– Bệnh greening (Bệnh gân xanh lá vàng) Tác nhân gây bệnh là một vi khuẩn sống trong tế bào, gram âm, phá hại chủ yếu các mạch libe ở các bộ phận còn non, rất phổ biến ở Đông Nam á. Triệu chứng thường thấy là cây lùn nhỏ, tán lá không đều, lá nhỏ đi, vàng lốm đốm hoặc vàng lá gân xanh. Để hạn chế bệnh nên trồng xen ổi với mật độ 2 hàng cam 1 hàng ổi.
– Bệnh Tristeza: Bệnh phá hại là gốc cây, làm cho toàn bộ lá trên cây đều bị vàng, giống như bệnh chảy gôm nhưng lá cây chỉ bị vàng và không biến dạng. Gốc có thể bị những vết lõm, vỏ bị nứt. Nếu bóc lớp vỏ ra thấy phần gỗ bên trong bị hoá bẩn (nhìn thấy một đám trắng xôm xốp). Nhìn kỹ thấy những mụn gỗ nhỏ li ti nổi lên đám gỗ hoá bần. Cây chết rất nhanh chỉ trong vòng vài tuần hoặc 1 tháng sau khi thấy vàng lá.

4. Thu hoạch và bảo quản
Cần thu hoạch kịp thời để không ảnh hưởng tới phẩm chất quả. Khi quả có 1/3 – 1/2 vỏ quả chuyển màu là thu hoạch được. – Khi thu hái nên dung kéo cắt cuống quả, không làm xây xát vỏ quả, gãy cành. Phân loại trước khi cất giữ hoặc vận chuyển bán ngoài thị trường.
guồn: http://vuongiongcay.com/ky-thuat-trong-cay-cam-vinh
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)














